Nguy cơ “chết yểu” trong “cuộc chơi toàn cầu”

07/04/2021 11:03 (GMT+7)

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) đã và đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, làm thế nào để các Doanh nghiệp Việt vượt qua rào cản và tận dụng cơ hội để bứt phá từ CPTPP và EVFTA vẫn đang là bài toán khó khi nguyên liệu vẫn đang phụ thuộc phần lớn vào Trung Quốc.

Trong năm 2019 và 2020, nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) quan trọng mà Việt Nam tham gia điển hình là CPTPP và EVFTA bắt đầu có hiệu lực và mang lại cơ hội thúc đẩy xuất khẩu lớn cho sản phẩm dệt may Việt Nam. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và đại dịch Covid-19, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vẫn thu được kết quả ấn tượng lần lượt là 39 tỷ USD (tăng 7,55% so với năm 2018) và 35,27 tỷ USD. Và trong 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may đã đạt 5,8 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2020. Với những con số ấn tượng này, Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) bày tỏ sự lạc quan với mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 39 tỷ USD vào cuối năm nay.

Ngành dệt may Việt Nam đã có những kết quả ấn tượng bất chấp chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch Covid-19.
Ngành dệt may Việt Nam đã có những kết quả ấn tượng bất chấp chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và đại dịch Covid-19.

Thế những, để những ưu đãi mà CPTPP và EVFTA thực sự phát huy hiệu quả thì lại không hề đơn giản. Bởi các doanh nghiệp dệt may trong nước hiện phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung ứng vải và nguyên phụ liệu từ Trung Quốc – quốc gia đứng ngoài các hiệp định này. Theo thống kê của Bộ Công thương, hết tháng 02/2021, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc đối với nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bao gồm: bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày) đạt 1,8 tỷ USD, tăng 43,5% và chiếm tỷ trọng 51% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Còn thống kê của Vitas cho thấy trung bình mỗi năm, cả ngành dệt may sử dụng khoảng 820.000 tấn nguyên phụ liệu, trong đó khoảng 70% nhập từ Trung Quốc.

Trong khi đó, theo cam kết tại EVFTA, bên cạnh việc đáp ứng tiêu chí khắt khe về chất lượng, để hưởng lợi ích về thuế suất, các yêu cầu về quy tắc nguồn gốc xuất xứ rất chặt chẽ. Với dệt may, quy tắc xuất xứ là “từ vải trở đi”, tức vải nguyên liệu được dùng phải được dệt tại Việt Nam hoặc các nước thành viên EU. Đây là thách thức không nhỏ của ngành do hiện nay phần lớn nguyên phụ liệu của Việt Nam đang nhập khẩu từ các nguồn không phải là thành viên của EVFTA và cũng không phải là quốc gia đã có FTA với EU. Còn với CPTPP, dệt may cũng được đánh giá là ngành có nhiều lợi thế về ưu đãi thuế quan. Song thực tế “quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi” đã đánh trúng vào điểm nghẽn của ngành. Dệt may Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lượng nguyên phụ liệu quá lớn, chưa hình thành được các chuỗi cung ứng trong nước cũng như trong khối CPTPP.

Nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam vẫn thụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc.
Nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam vẫn thụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc.

Như vậy, để có thể giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, thời gian tới, các doanh nghiệp trong ngành cần chủ động tìm các thị trường tiềm năng khác để nhập khẩu nguyên phụ liệu, như có thể nhập khẩu xơ từ thị trường Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia; nhập khẩu sợi từ thị trường Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và nhập khẩu vải từ thị trường Hàn Quốc, Thái Lan và Malaysia… Tuy nhiên, để đa dạng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, một khó khăn là nhiều doanh nghiệp rất thiếu thông tin thị trường. Khó khăn đó đang rất cần các cơ quan xúc tiến thương mại ở nước ngoài, cũng như Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tháo gỡ bằng việc bổ sung, mở rộng các cổng thông tin về thị trường các nước, để doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu đầu tư, tìm nguồn nguyên liệu thay thế.

Một thực tế hiện nay là trong khoảng 6.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may thì số lượng các doanh nghiệp gia công chiếm tới 85%, trong khi đó doanh nghiệp vải, nhuộm chỉ chiếm 13%. Để chủ động nguồn cung nguyên liệu về lâu dài, Việt Nam không thể không xây dựng nguồn cung cấp ngay tại trong nước và tăng tỷ lệ nội địa hóa nguồn nguyên liệu. Các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may vừa và nhỏ cần chủ động tìm đến doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu, hoặc liên kết đầu tư nguồn nguyên liệu vải nhằm giảm tối đa tình trạng nhập khẩu. Điều này vừa giúp đảm bảo quy tắc cuất xứ nguyên liệu, vừa giúp đảm bảo tính cạnh tranh về giá cả.

Tuy nhiên, điều đáng nói, phần lớn hoạt động đầu tư trong ngành hiện tại mới chỉ tập trung vào khâu sợi, may và phụ liệu… những công đoạn khác của chuỗi như dệt, nhuộm hoàn tất thì vẫn “hẩm hiu”. Mà đây mới chính là nút thắt cổ chai của ngành dệt may Việt Nam.

Còn nhớ, cách đây không lâu rất nhiều địa phương đã “khước từ” các dự án đầu tư vào khâu này, bởi những lo ngại về nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến môi trường. Trong đó không thể không nhắc tới vụ đầu tư của TAL tại khu công nghiệp Bá Thiện II, Vĩnh Phúc. Tiềm ẩn nguy cơ về môi trường là có thể, việc cẩn trọng trước mỗi dự án đầu tư là điều cần thiết, tuy nhiên không phải dự án nào cũng gây ra ô nhiễm, không thể phủ đầu, hay đánh đồng tất cả. Điều cần có là sự vào cuộc hiệu quả của Nhà nước trong hoạch định chiến lược phát triển các khu công nghiệp theo chuỗi khép kín của ngành dệt may, có cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các khâu thượng nguồn, nhất là lĩnh vực dệt nhuộm. Trước mắt, cần thu hút và cấp phép cho các dự án dệt nhuộm, nhất là các dự án có trình độ thiết bị công nghệ tiên tiến và quy trình xử lý nước thải bảo đảm thân thiện môi trường.

Dệt, nhuộm hoàn tất vẫn là "điểm nghẽn" lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam.
Dệt, nhuộm hoàn tất vẫn là “điểm nghẽn” lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam.

Các doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hiểu nội dung của CPTPP và EVFTA, đặc biệt là các cam kết liên quan tới thuế quan và quy tắc xuất xứ, chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu để đáp ứng được quy tắc xuất xứ của hiệp định, chuyển hướng nguồn nhập khẩu sang các nguồn nguyên liệu trong nước, từ các nước trong khối CPTPP, các nước thành viên EU, các quốc gia đã có FTA với EU.

Lợi thế từ CPTPP và EVFTA mang lại cho ngành dệt may là không thể bàn cãi. Và khó khăn cũng đã được dự báo. Vấn đề còn lại là các cơ quan quản lý Nhà nước cần quy hoạch các khu công nghiệp sản xuất dệt may lớn tại ba miền Bắc, Trung, Nam để thu hút đầu tư vào lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm hoàn tất. Có chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư công nghệ cao vào ngành. Còn về phía doanh nghiệp dệt may cần phải giải quyết những nút thắt và nâng cao hơn nữa nguồn lực nội tại. Chỉ khi làm được những việc này mới thực sự là cơ hội cho ngành này bứt phá, không bỏ lỡ những cơ hội mà CPTPP và EVFTA mang lại, đặc biệt là về thuế quan.

Diệu Hương

ads
Được quan tâm
Kết nối với chúng tôi
3
Bạn cần biết